12A3 - THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm - Hà Nội - Khoá học 2006 -> 2009

Tập thể lớp 12A3 -- Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm -- Khoá 2006- 2009
IndexPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Share | 
 

 ảnh hưởng của dân số đến các vấn đề x• hội ở việt

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 23
Join date: 28/12/2009
Age: 23
Đến từ: Kim chung - Đông Anh - Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: ảnh hưởng của dân số đến các vấn đề x• hội ở việt   Mon Feb 01, 2010 11:47 pm

3.1 ảnh hưởng dân số đến giáo dục:
sự thay đổi về quy mô và cơ cấu dân số sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển về số lượng và chất lượng đến hệ thống giáo dục. Việt Nam là nước có tỷ lệ gia tăng dân số cao cơ cấu dân số trẻ dẫn đến có hậu qủa kém cho sự phát triển giáo dục. Quy mô và tốc độ tăng dân số có tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của giáo dục. Nếu tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường trong tổng số dân tương đối ổn định hoặc giảm rất chậm và quy mô nhu cầu giáo dục phổ thông phụ thuộc vào quy mô dân số. ở nước ta do quy mô dân số tăng nhanh nên số lượng học sinh cũng không ngừng tăng nên. Tốc độ tăng dân số cao sẽ làm cho số học sinh trong độ tuổi đến trường tăng nhanh chóng.
Tác động gián tiếp của quy mô và tốc độ tăng dân số thể hiện thông qua ảnh hưởng của sự tăng nhanh dân số đến chất lượng cuộc sống, mức thu nhập từ đó ảnh hưởng đến quy mô giáo dục, đầu tư cho giáo dục, chất lượng giáo dục. ở nước ta do ngân sách chưa lớn, nên đầu tư cho ngành giáo dục chưa cao, cơ sở vật chất hạ tầng còn thiếu thốn, nhiều nơi còn chưa xây dựng được trường lớp khang trang, bàn ghế sách vở đồ dùng còn thiếu.
Mục tiêu đạt được phổ cập giáo dục tiểu học: Nhìn chung những nỗ lực phổ cập giáo dục hiện nay chưa chý ý đến những trẻ em nghèo. Một số điều tra còn cho thấy nỗ lực này đ• bỏ qua đối tượng trẻ em nghèo, nếu không có sự quan tâm hỗ trợ tài chính của địa phương chắc chắn nhiều trẻ em không được đến trường, một số em khác thời gian đi học sẽ bị trì ho•n, hoặc qu•ng thời gian học tập bị rút ngắn. Nạn tảo hôn và việc mang thai ở tuổi vị thành niên cũng ngăn cản quá trình học tập. Tóm lại nếu không có chính sách đúng đắn về chiến lược dân số thì mục tiêu phổ cập tiểu học sẽ rất xa vời.
Cơ cấu dân số theo tuổi cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của giáo dục, cơ cấu dân số nước ta là trẻ nên nhu cầu giáo dục nước ta là lớn, do mức sinh cao nên cơ cấu dân số trẻ, tháp tuổi dân số có đáy mở rộng. Do đó quy mô của nền giáo dục tương ứng với dân số này có số học sinh cấp 1 lớn hơn cấp 2 lớn hơn cấp 3.
Phân bố địa lý dân số cũng có ảnh hưởng đến giáo dục. ở nước ta dân số phân bố không đều giữa đồng bằng và miền núi giữa thành thị và nông thôn. ở thành thị và các vùng đông dân kinh tế thường phát triển hơn, nên trẻ em có nhiều cơ hội được đến trường hơn những vùng kém phát triển dân cư thưa thớt. Ngoài ra do điều kiện kinh tế chưa có nên nước ta chưa quan tâm đúng mức đến sự phát triển giáo dục ở các vùng hẻo lánh và nhiều giáo viên không muốn làm việc ở vùng này. Mật độ dân số ở các khu vực thành thị quá lớn nên ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng giáo dục. Mật độ dân số quá lớn số trẻ em đến tuổi đi học cao gây quá tải, học sinh phải học 3 ca, ví dụ như c ở các thành phố lớn như : Hà Nội , Thành Phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng…
Ngược lại ở nơi dân cư thưa thớt, ví dụ như các dân tộc sống rải rác trên núi, số trẻ em trong độ tuổi đi học không nhiều, khoảng cách từ nhà đến trường lớn cũng là một yếu tố gây khó khăn cho ngành giáo dục.
3.2 ảnh hưởng của dân số đến y tế :
Quy mô và tỷ lệ gia tăng dân số ảnh hưởng lớn đến hệ thống y tế :Nhiệm vụ của hệ thống y tế là khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Vì vậy quy mô dân số quyết định số lượng y bác sỹ và số lượng cơ sở y tế. Và dân số tăng quá nhanh sẽ dẫn lần khám và chữa bệnh của một người tăng lên. Nước ta là một nước có nền kinh tế chậm phát triển khả năng dinh dưỡng hạn chế, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên, chưa hết bệnh suy dinh dưỡng. Dân số đông và tăng quá nhanh và dẫn đến nhà ở trật trội và vệ sinh không dảm bảo nhất là nguồn nước sinh hoạt. Dinh dưỡng kém và môi trường bị ô nhiễm là những điều kiện thuận lợi cho bệnh tật phát triển. Nước ta nhiều người vẫn không có việc làm nẩy sinh những tệ nạn x• hội do đó quản lý x• hội khó khăn, tai nạn giao thông tăng lên. Những nguyên nhân góp phần làm tăng bệnh tật và thương tật do đó cũng cần có nhiều cơ sở khám chữa bệnh. Như vậy quy mô dân số và tỷ lệ tăng của nó tác động trực tiếp đến nhu cầu khám chữa bệnh. Quy mô dân só lớn tốc dộ tăng dân số cao đòi hỏi quy mô hệ thống y tế bệnh viện , số cơ sở y tế, số gường bệnh, số y bác sỹ …cũng phải phát triển với tốc đọ thích hợp để đảm bảo các hoạt động khám và chữa bệnh cho người dân .
Sức khoẻ tình trạng mắc , bệnh nhu cầu kế hoạch hoá gia đình phụ thuộc rất lớn vào độ tuổi, giới tính của con người. Lứa tuổi thanh niên và trung niên, có sức khoẻ tốt hơn và do đó tỷ lệ mắc bệnh và mức chết thấp hơn so vơi trẻ em và người già. Nhu cầu kế hoạch hoá gia đình cũng cao hơn các nứa tuổi khác.
Phân bố dân số ảnh hưởng đến hệ thống y tế. ở Các khu vực địa lý khác nhau , như đồng bằng miền núi, thành thị, nông thôn có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên , kinh tê x• hội lên có cơ cấu bệnh tật khác nhau.VD ở vùng đông bằng ,vùng ven biển Miền Bắc Việt Nam thì các bệnh về đường tiêu hoá, bệnh hô hấp là phổ biến,nhưng ở vùng núi cao thì bệnh sốt rét ,bệnh bước cổ lại là bệnh cần quan tâm phòng chống .Các bệnh x• hội hay lây lan như :giang mai, hoa liễu, AIDS .. thường tập trung ở các thành phố lớn mật độ cao. Mặc dù đ• dạt được những thành tụu đáng ghi nhận ,nhưng tình trạng sức khoẻ nhân dân ,nhất là ở vùng sâu, vùng xa đang đặt ra nhiều bức xúc ,có nhiều vấn đề trở lên gay gắt. Đại dịch HIV –AIDS ở nước ta tuy chưa đến mức nghiêm trọng như ở các nước,nhưng với tốc độ lan truyền như hiện nay thì sẽ là một thách thức lơn đối với chất lượng dân số. Theo thống kê của uỷ ban quốc gia phòng Chống AIDS thì HIV ca đầu tiên vào tháng 12 –1990 đến tháng 12-2002 là 35.330 . Con số thực tế còn cao hơn nhiều còn đang tăng nhanh, có thể đạt đỉnh vào năm 2010. HIV /AIDS tác động mạnh đến các lĩnh vực y tế và sức khoẻ. Sự lan truyền nhanh HIV/AIDS tạo ra sự thay đổi phức tạp theo su huớng làm xấu đi các quan hệ x• hội ,nhất là gia đình . Nó làm đảo lộn mối quan hệ truyền thống trong các gia đình người bệnh và cộng đồng người xung quanh . Đó là những yếu tố tiềm ẩn của những xáo trộn ngoài mong muốn, không tích cực đối với x• hội . Đại dịch HIV/AIDS ở nước ta gây những tổn thất lớn về kinh tế cho đất nước gia đình người nhiễn HIV ,sẽ ngăn cản làm chậm sự phát triển kinh tế x• hội .Dịch bệnh HIV/AIDS sẽ tác động khả năng phát triển nâu dài của đất thông qua những thay đổi theo chiều hướng không tốt cho cơ cấu dân cư và làm giảm cả số lượng và chất lượng lực lượng lao động của x• hội trong tương lai.
Nước ta cũng là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới. Theo ước tính hiện có khoảng 40% phụ nữ có thai bị huỷ bỏ bằng biện pháp y tế xấp xỷ 1,5 triệu người /năm; có người nạo phá thai nhiều lần trong đời và nhiều lần trong một năm. Chăn sóc sức khoẻ bà mẹ còn yếu kém, hàng năm nước ta vẫn còn khoảng từ 2200 đến 2800 bà mẹ tử vong do các nguyên nhân liên quan đến sinh đẻ và thai ngén, trong khi 90% các trường hợp này có thể tránh được nếu có đầy đủ hệ thống chăm sóc. Khoảng 50% bà mẹ không đến cơ sở y tế để sinh con. Gần 60% các bà mẹ có thai trong tình trạng thiếu máu,sức khoẻ yếu .Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh trước 24 giờ chiến gần 80% trong tổng số trẻ em chết. Tỷ lệ chấp nhận các biện pháp tránh thai nhìn chung là tương đối cao( khoảng 65% các cặp vợ chồng trong độ tưổi sinh đẻ ) ; nhưng có đến 20% là các biện pháp tránh thai tỷ truyền thống hiệu quả thấp .Tỷ lệ lây nhiễm qua đường tình dục năm 1996 là 50.318 ca, năm 2002 lên tới 127258 ca cá tố chất về thể lực của người Việt Nam còn hạn chế đặc biệt về chiều cao và cân nặng và sức bền .Tỷ lệ trẻ em dưói 5 tuổi suy dinh dưõng cao , chiếm khoảng 30%. Đáng lưu ý là vẫn còn 1,5% dân số bị thiểu năng về lực và trí tuệ. Để thực hiện bằng được những mục tiêu cải thiện sức khởe của nhân dân ,góp phần nâng cao chất lượng dấn số dân số ,chúng ta cần phát huy hơn nữa những mặt đ• đạt được khắc phục những mặt yếu kém kết hợp kinh nghiệm quốc tế với trong nước trong vấn đề chăm sóc sức khoẻ nhân dân và thực hiện kế hoạch hoá gia đình .Trước mắt cần khẩn trương thực hiện những nhiện vụ cơ bản sau đây:
- Tăng cường củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở:
- Xây dựng và ban hành chính sách ưu tiên
- Nâng cao chất lương địch vụ y tế công cộng đặc biệt là ở các tuyến y tế cơ sở miền núi ,vùng xâu, vùng xa.
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác y tế dụ phòng và nâng cao sức khoẻ, gỉam gánh nặng bệnh tử vong .
- Tổ chức thực hiện tốt chiến lược dân sô Việt Nam giai đoạn 2001 đến 2010 coi việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình và giảm tỷ lệ sinh là một trong những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số.
3.3 ảnh hưởng của sự gia tăng dân số quá nhanh đến bình đẳng giới :
Ngày nay tuy đ• có những thay đổi quan trọng về vai trò của người phụ nữ, song điều này vẫn chưa phổ biến dân số và bình đẳng giới có tác động qua lại lẫn nhau trong sự tác động của nhiều nhân tố khác : như kinh tế, giáo dục…Dân số cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình đấu tranh cho bình đẳng giới. Tốc độ tăng dân số ảnh hưởng đến việc thực hiện bình đẳng nam nữ. Nên đặc trưng trong mối quan hệ giới giữa phát triển dân số và bình đẳng giới trong x• hội ngày nay là sự tăng dân số quá nhanh dẫn đến hậu quả xấu trong việc bình đẳng giới. Nước ta là một nước có tốc độ phát triển dân số nhanh, đầu tư của nhà nước cho giáo dục ít, do đó hệ thống giáo dục kém phát triển. Phụ nữ ít có cơ hội học tập và nâng cao trình độ. Vì vậy họ thường phải làm việc sớm và làm các công việc không có trình độ chuyên môn. Phụ nữ thường lấy chồng sớm và sinh nhiều con, do đó tốc độ tăng dân số cao thì địa vị của phụ nữ thường thấp kém nhiều so với nam giới. Trong phạm vi gia đình quy mô gia đình lớn (đông con) đặc biệt là trong các gia đình nghèo cha mẹ thường chỉ ưu tiên cho con trai đi học, con gái phải đi làm sớm để giúp cha mẹ nuôi gia đình. Không được đi học, làm việc sớm và phải lấy chồng sớm khiến cho người phụ nữ không có trình độ học vấn cao. Vì vậy họ không thể tìm được những công việc có thu nhập cao. Không có trình độ hiểu biết nên họ không thể và không được tự mình quyết định tất cả các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của họ như chọn bạn đời, chọn các phương tiên tránh thai, chọn thời điểm sinh con . Tóm lại dân số tăng nhanh nền kinh tế kém đ• hạn chế quyền bình đẳng nam nữ .
3.4 Tác động của sự gia tăng dân số đến việc nâng cao mức sống dân cư :
Sự gia tăng dân số nhanh trở thành một gánh nặng một thách thức lớn cho phát triển nói chung và việc nâng cao mức sống của nhân dân : Tác động của sự gia tăng dân số nhanh làm cho đất canh tác nông nghiệp bình quân đầu người thấp, thiếu việc làm. Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhu cầu phát triển nhà ở, đất canh tác bình quân ở các vùng nông thôn giảm. ở nhiều địa phương người nông dân nông thôn một mặt thiếu đất canh tác, mặt khác do đời sống ở nông thôn thấp kém đ• di chuyển nên các thành phố làm cho nạn thất nghiệp gia tăng. Theo tổng điều tra dân số ở Việt Nam năm 1999 số người trong độ tuổi lao động từ 15-59 tuổi chiếm 59,89%. Hàng năm đội quân lao động lại được bổ sung gần 1 triệu người. Nước ta là nước mông nghiệp trên 70% lực lượng lao động sống ở nông thôn nên khi nguồn lao động tăng thì diện tích đất canh tác bình quân đầu người giảm. Năm 1940, bình quân 1 người có 0,26 Ha đất canh tác, năm 1955 là 0,19 Ha đến năm 1995 chỉ còn 0,1 Ha. Nguồn lao động dư thừa trong cả nước đang gây sức ép to lớn đến mọi mặt của đời sống kinh tế x• hội, làm cho mức sống của nhân dân tăng với mức độ chậm . Dân số tăng nhanh là một yếu tố rất quan trọng dẫn đến thu nhập bình quân đầu người thấp. Sự chênh lệch về bình quân đầu người giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Dân số tăng nhanh làm cho chất lượng nhà ở, dịch vụ y tế kém. Nhiều gia đình phải sống trong những ngôi nhà có diện tích chật hẹp và có chất lượng thấp. Nhiều người dân chưa được sử dụng nước sạch và công trình vệ sinh. Khẩu phần ăn của đa số người dân chưa đủ dinh dưỡng, tình trạng trẻ em bị suy dinh dưỡng còn nhiều .
4.giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số :
Hiện nay Đảng và nhà nước ta đang nỗ lực thực hiện công tác tuyên truyền, vận động để mọi người dân tự nhận thức được ý nghĩa của kế hoạch hoá gia đình đối việc xây dựng một gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc thông qua việc chủ động, tự nguyện, bình đẳng quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với sự phát triển kinh tế – x• hội của đất nước và mục tiêu chính sách của dân số trong từng giai đoạn, đồng thời, phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con. Nhà nước đảm bảo các điều kiện để cá nhân, cặp vợ chồng thực hiện mục tiêu chính sách dân số : Mỗi cặp vợ chồng sinh từ một đến hai con ; sinh con trong độ tuổi lí tưởng từ 22 tuổi đến 35 tuổi đối với nữ ; lựa chon khoảng cách giữa mỗi lần sinh hợp lý từ 3 đến 5 năm ; sử dụng biện pháp tránh thai phù hợp với điều kiện kinh tế, sức khoẻ, tâm lý và điều kiện khác của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng. Nâng cao sức khoẻ cho mỗi người dân, đặc biệt là phụ nữ mang thai, phụ nữ nuôi con nhỏ : giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong đối với người mẹ và trẻ sơ sinh ; tăng cường các biện pháp phòng, chống, điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS. Nhà nước khuyến khích lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, thực hiện các chính sách x• hội để tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình sâu rộng trong nhân dân.
Nhà nước cũng thực hiện chính sách, biện pháp giúp đỡ hỗ trợ về vật chất và tinh thần trong việc thực hiện chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình, nâng cao chất lượng dân số đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế x• hội đặc biệt khó khăn. Khuyến khích nam nữ kiểm tra sức khoẻ trước khi kết hôn. Chất lượng dân số của cộng đồng được phản ánh qua tình trạng sức khoẻ, dinh dưỡng, nước sạch, vệ sinh môi trường giáo dục, trật tự x• hội, gia đình văn hoá, tỷ lệ sinh và thu nhập của cộng đồng.
III. kết luận

Qua việc nghiên cứu đề tài : “H•y nêu và phân tích ảnh hưởng của sự phát triển dân số đến kinh tế x• hội ở Việt Nam ”. Không những đưa cho ta một bức tranh sống động về dân số nước ta trong thời kỳ vừa qua, thông qua những chỉ tiêu phản ánh : Quy mô, tốc độ gia tăng, cơ cấu. Một hình ảnh về thị trường lao động : Cung và cầu lao động và qua đó cho ta thầy được mối quan hệ dân số thị trường lao động, những cản trở đối với việc thực hiện vấn đề dân số. Một mặt những vấn đề cấp bách và thiết thực như vậy, nhưng điều quan trọng nhất đối với mỗi sinh viên chúng ta là : Ta đ• chau rồi được vốn kiến thức về môn chuyên ngành, lắm bắt được thực tế tình hình dân số, thị trường lao động để từ đó tự nhận thấy mình phải có trách nhiệm đối với đất nước, trách nhiệm chính là việc học tập, lắm bắt được kiến thức cơ bản cộng với việc tìm tòi sáng tạo trong nghiên cứu, đưa ra những định hướng và giải pháp phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của đất nước nhằm thực hiện thực hiện mục tiêu chung mà đảng và nhà nước đ• đề ra: “Thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước”, đưa đất nước phát triển và theo kịp tốc độ của thế giới
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://12a3nbk.8forum.net
 

ảnh hưởng của dân số đến các vấn đề x• hội ở việt

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
12A3 - THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm - Hà Nội - Khoá học 2006 -> 2009 ::  :: -
Free forum | © phpBB | Free forum support | Report an abuse | Create your own free blog