12A3 - THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm - Hà Nội - Khoá học 2006 -> 2009

Tập thể lớp 12A3 -- Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm -- Khoá 2006- 2009
IndexPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Dân số tác động đến lao động và việc làm ,da son va ptrien Kinh te ,tieu dung va tich luy

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Tổng số bài gửi : 23
Join date : 28/12/2009
Age : 25
Đến từ : Kim chung - Đông Anh - Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Dân số tác động đến lao động và việc làm ,da son va ptrien Kinh te ,tieu dung va tich luy   Mon Feb 01, 2010 11:46 pm

2.1
Code:
Dân số tác động đến lao động và việc làm
:
Luật pháp nước cộng hoà x• hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tuổi lao động của nam là từ 15-60 tuổi còn đồi với nữ là 15-55 tuổi. Tỷ lệ dân số trong tuổi lao động Việt Nam năm 1997 là gần 58% với khoảng 44 triệu người. Nguồn lao động ở nước ta có quy mô lớn và tăng rất nhanh. Số người bước vào độ tuổi lao động hàng năm không ngừng tăng lên. Năm 1990 : là 1,448 nghìn người, năm 1995 là 1,651 nghìn người, dự báo năm 2010 là 1,83 nghìn người và tổng số người trong độ tuổi lao động lên tới gần 58 triệu. Từ nay tới năm 2010, mặc dù dân số có thể tăng chậm lại nhưbg nguồn lao động của nước ta vẫn tăng liên tục. Giải quyết việc làm cho đội quân lao động khổng lồ này là một thách thức lớn cho nền kinh tế, một vấn đề kinh tế x• hội nan giải.
Xét về mặt cơ cấu nghề nghiệp, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại háo, lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần, lao động trong khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng lên, song điều đó đến nay Việt Nam vẫn có lao động theo ngành hết sức lạc hậu : Lao động chủ yếu làm việc trong khu vực nông ,lâm ngư nghiệp. Việc cải thiện cơ cấu lạc hậu này diễn ra rất chậm chạp. Điều này phụ thuộc nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố mức sinh ở nông thôn luôn luôn cao khoảng gấp đôi ở thành phố. Do vậy lao động tích tụ ở đây càng ngày một nhiều và tỷ trọng giảm chậm, mặc dù đ• diễn ra luồng di dân mạnh mẽ từ nông thôn ra đô thị, kèm theo sựk chuyển đổi ngành nghề trong nông nghiệp, trong khi số dân và lao động khu vực này tăng lên nhanh chóng thì quỹ đất canh tác là có hạn. Hơn nữa quá trình công nghiệp hoá đất nước đang diễn ra mạnh mẽ thì đất nông nghiệp phải chuyển giao cho công nghiệp, dịch vụ, các công trình dịch vụ khác. Diện tích đất nông nghiệp không ngừng giảm xuống trong thời gian qua. Năm 1981 bình quân 0,42 Ha/ người, năm 1993 còn 0,098 Ha/ người. Bình quân hộ giàu ở nông thôn mới có 1,2 Ha đất canh tác trong khi ở Mỹ là 80 Ha, ở Châu Âu là 9 Ha.
Sức ép dân số, lao động lên đất đai hạn hẹp gây ra tình trạng thiếu việc làm phổ biến. Lao động nông nghiệp làm việc theo màu vụ mà ruộng đất là tư liệu sản xuất chính có ít nên số ngày công của lao động trong năm thường rất thấp (187 ngày/năm) . Hiện tại hình thức kênh tế trang trại đang được nàh nước khuyến khích phát triển cũng gập nhiều khó khăn khi diện tích đất đai của các hộ gia đình ngày càng bị thu hẹp. Thêm nữa là tình trạng khó khăn trong lao động việc làm ở các ngành khác dẫn đến hiện tượng dồn động thêm lao động nông thôn vào khu vực nông nghiệp. Năm 1997, có tới 7.358.199 người từ 15 tuổi trở lên, chiếm 25% tổng số lao động hoạt động kinh tế thường xuyên ở khu vực nông thôn thiếu việc làm. Tình trạng khan hiếm đất dẫn tới đồng ruộng manh mún, phân tán, khó thúc đẩy các tiến bộ khoa học, kỹ thuật như cơ giới hoá thuỷ lợi hoá, tổ chức lao động khoa học.Tình trạng di dân tự do từ nông thôn nên thành thi hoặc từ đồng bằng Sông Hồng lên miền núi phía Bắc vầ Tây Nguyên đ• phát sinh và ngày càng răng mạnh, dẫn đến nạn phá rừng trần trọng. Dẫn đến diên tích rừng suy giảm theo cấp độ tăng của dân số : Dân số năm 1981 so với năm 1943 tăng 2,5 lần, diện tích rừng chỉ còn lại 40%.
Công nghiệp và dịch vụ là những ngành tập trung vốn đầu tư lớn nhưng do quy mô dân số tăng nhanh, cơ cấu dân số trẻ đòi hỏi phải sử dụng nhiều thu nhập quốc dân sử dụng cho giáo dục, y tế, phúc lợi x• hội…Dẫn đến tình trạng thiếu trần trọng vốn tích luỹ đầu tư cho công nghiệp, dịch vụ. Hiện tại chất lượng thấp ,cơ cấu đào tạo nghề không hợp lí, phân bố không phù hợp là những nhân tố quan trong cùng với các yếu tố thiếu vốn, khủng hoảng tài chính, tiền tệ gây khó khăn cho quá trình tạo thêm việc làm trong khu vực công nghiệp, dịch vụ. Tỷ lệ công nhân được đào tạo ở nước ta còn thấp, chỉ chiếm 4,37% lực lượng lao động và một nửa trong số đó tuy đ• được đào tạo nhưng không có bằng.
So với các nước trên thế giới và khu vực tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay tương đối cao và ổn định (Năm 1996 : 5,62% , năm 1997 : 5,81%) và tập trung ở những vùng đông dân hay đô thị lớn.

Vùng 1996 1997 1998
Miền núi và trung du phía Bắc 6,13 6,01 6,25
Đồng bằng Sông Hồng 7,31 7,56 8,25
Bắc Trrung Bộ 6,67 6,69 7,26
Duyên hải Miền Trung 5,3 5,2 6,67
Đông Nam Bộ 5,3 5,79 6,44
Tây Nguyên 4,08 4,48 5,88
Đồng bằng Sông Cửu Long 4,59 4,56 6,44
Bình quân cả nước 5,62 5,81 6,85

Bảng 1 : Tỷ lệ thất nghiệp của lao động Việt Nam phân theo vùng .



















Chỉ tiêu Đơn vị tính Thực tế đến năm 2000 (*) Mục tiêu
phát triển (theo dự kiến) Theo tính toán từ
các chương trình
mục tiêu
(khả năng) Cân đối về số
lượng giữa khả năng và
mục tiêu
(cao hơn / thấp hơn)

Đến năm
2005

Tăng/ giảm B/q hàng năm
2001 -
2005 Đến
năm
2005 Tăng/ giảm B/q hàng năm
2001 -
2005 Đến năm
2005
Tăng/ giảm B/q hàng năm
2001 -
2005
A B 1 2 3 4 5
6 7
1. Dân số
* Chia ra:
- Thành thị
- Nông thôn

*Hệ số đô thị hoá
2.LLLĐ
*Chia ra :
-Thành thị
-Nông thôn
* Tỷ lệ LLLĐ thành thị chiếm trong tổng LLLĐ cả nước.
3.LLLĐ có việc làm thường xuyên
* Tổng số
* Chia theo nhóm
ngành.
-Nông, lâm, ngư
-CN và XD
-Dịch vụ
4.Cơ cấu LĐ có VLTX chia theo nhóm ngành :
-Nông, lâm, ngư
-CN và XD
-Dịch vụ
1000 Ng

1000 Ng
1000 Ng

%
1000 Ng

1000Ng
1000Ng


%






1000Ng
1000Ng
1000Ng



%
%
% 77.697,0 83.000 1.060,6 82.492,6 959,1 -507,6 -101,5

180647,3 22.828 835,5 22.685,5 725,1 -552 -110,4
59.049,7 60.175 225,1 59.807,1 234,0 44,6 8,9
24,0 27,5 0,70 27,5 0,60 -0,5 -0,1
38.643,0 42.665,0 804,4 42.665,0 804,4 - -

8.726,0 11.029,9 473,4 11.029,9 473,4 - -
29.917,0 31.572,1 331,0 31.572,1 331,0 - -

22,6
26,0
0,68
26,0
0,68
-
-

36.205,6 40.000,0 758,9 40.007,5 760,4 7,5 1,5

22.670,0 22.600 -14,0 24.020,0 270,0 1.420 284
4.743,7 8.000 615,3 7193,7 490,0 -806,3 -161,3
8791,9 9.400 121,8 8.793,8 0,4 -602,2 -121,4

62,56 56,5 -1,2 60,04 -0,5 3,54 0,7
13,15 20,0 1,4 17,98 1,0 -2,02 -0,4
24,29 23,5 -0,16 21,98 -0,5 -1,52 -0,3





2.2 Gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế :
ở Việt Nam mối quan hệ giữagia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở bảng sau :

Các năm Tỷ lệ gia tăng (GDP) Tỷ lệ gia tăng
1976-1980 0,4 2,47
1981-1985 6,40 2,55
1986-1990 0,39 2,2
1991-1995 8,3 2,0
1996 9,34 1,88
1997 8,15 1,80
1998 5,8 1,75

Bảng 3: Tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số Việt Nam.

Giai đoạn 1976-1980, tỷ lệ tăng GDP bình quân đầu người mang giá trị âm (-2,07) chứng tỏ mức sống không ngừng giảm. Giai đoạn 1986-1990, mặc dù GDP tăng với tỷ lệ 3,9% nhưng tỷ lệ tăng dân số nên đến 2,2% nên tỷ lệ tăng GDP bình quân đầu người cũng chỉ đặt 1,7%. Với tỷ lệ này cần 41 năm để mức sống tăng gấp đôi. Mức sống vốn đ• thấp lại chậm được cải thiện, nguy cơ tụt hậu của nước ta biểu hện rõ ràng. Giai đoạn 1990-1995, sản xuất phát triển, tỷ lệ tăng GDP khá, đồng thời tỷ lệ tăng dân số đ• giảm còn 2% nên tỷ lệ tăng GDP bình quân đầu người hàng năm nên đến 6,3% mức sống dân cư được cải thiện nhanh. Tuy vậy tình hình gia tăng kinh tế và phát triển sản xuất giữa các vùng có sự khác biệt. Đồng bằng Sông Hồng và Miền Đông Nam Bộ có sản xuất dịch vụ phát triển mạnh nhất nhưng dân số lại tăng chậm nhất nên tỷ lệ tăng GDP bình quân đầu người hàng năm cao khoảng 10%. Ngược lại ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên do tỷ lệ tăng dân số rất cao gần 3% trong khi sản xuất kém phát triển nên tỷ lệ tăng GDP bình quân đầu người hàng năm chỉ đạt khoảng 2%-3%. Với mức tăng trưởng khác nhau như vậy (mà nguyên nhân chủ yếu do mức tăng dân số lớn), thì nguy cơ phân hoá ngày càng sâu sắc giữa các vùng, đặc biệt là miền núi và đô thị khá lớn.
Tăng trưởng
(bình quân
1991-1995) Tỷ suất sinh thô
(bình quân
1993-1994)
Miền núi và trung du Bắc Bộ 5,56 2,89
ĐB Sông Hồng 9,15 1,90
Bắc Trung Bộ 5,75 2,96
Duyên hải Miền Trung 6,45 2,63
Tây Nguyên 5,97 3,59
Miền Đông Nam Bộ 12,85 2,18
ĐB Sông Cửu Long 7,38 2,01
Cả Nước 8,30 2,53
Bảng 4 : Tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số ở các vùng .
Rõ ràng nếu không có các biện pháp hữu hiệu để giảm nhanh tốc độ gia tăng dân số và đầu tư phát triển kinh tế mạnh hơn vào những vùng nghèo thì sự chênh lệch như trên như trên ở nước ta sẽ ngày càng lớn. Việc thực hiện chương trình dân số- KHHGĐ ở nước ta đ• có tác dụng trực tiếp đối với sự phát triển kinh tế của đất nước vì giảm được tỷ lệ gia tăng dân số xuống nữa sẽ ghóp phần nâng cao mức tăng trưởng kinh tế.
2.3 Dân số tiêu dùng và tích luỹ :
Khẩu phần ăn chủ yếu của nước ta hiện nay là lương thực. Mức ăn bình quân nhân khẩu hàng năm phải đạt trên 300 Kg lương thực quy thóc mới bảo đảm đủ Kalo cho cơ thể. Cho đến năm 1989 sản lượng lương thực sản xuất qua các năm có tăng, song do tỷ lệ gai tăng dân số cao nên lượng lương thực quy thóc bình quân đầu người giảm và chưa đạt mức 300 Kg/người/năm . Từ năm 1940-1980 sản lượng lương thực nước ta tăng nên 2,6 lần nhưng dân số tăng 2,8 lần nên bình quân lương thực lại giảm từ 298 Kg/người/năm còn 268 Kg. Từ năm 1989 trở lại đây nhờ đường nối đổi mới sản xuất nông nghiệp phát triển, sản lượng lương thực tăng nhanh tỷ lệ tăng dân số lại giảm dần nên lương thực bình quân đầu người đ• đạt mức trên 300 Kg. Điều đáng lưu ý tuy tỷ lệ tăng dân số đ• giảm đáng kể nhưng còn ở mức cao nên tỷ lệ tăng lương thực bình quân đầu người vẫn rất thấp so với tỷ lệ tăng tổng sản lương thực quy thóc cùng kỳ. Như vậy nếu chỉ nâng cao tổng sản lượng lương thực mà không chú ý đến giảm tốc đọ tăng dân số thì khó có thể nâng cao bình quân lương thực đầu người. Dân số tăng nhanh là áp lực lớn về lương thực, thực phẩm và là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đói nghèo. Đối với các sản phẩm tiêu dùng khác như vải vóc, diện tích lớp học, giấy bút, đồ gỗ, nhiên liệu…Tình hình cũng diễn ra như vậy cùng với nguy cơ tiêu dùng ngày càng lớn việc quản lí khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản lại thiếu chặt chẽ, đồng bộ đ• làm cho tài nguyên thiên nhiên ở nước ta đang bị can kiệt dần, môi trường bị tàn phá ngày càng trầm trọng. Tốc độ khai thác và sử dụng khoáng sản ở nước ta cũng khá nhanh. Trong vòng 8 năm từ 1991-1998 sản lượng khai thác dầu, than, đá đều gấp hơn hai lần trong khi trữ lượng của chúng đều có giới hạn. Bên cạnh tác động của quy mô dân số đến quy mô tiêu dung thì cơ cấu tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng mạnh bởi các yếu tố dân số như cơ cấu theo độ tuổi giới tính…Chính sự khác biệt lớn về nhu cầu sử dụng hàng hoá, dịch vụ sinh hoạt giữa trẻ em và người già, nữ và nam đ• tạo nên cơ cấu sản xuất và tiêu dùng x• hội khác nhau.
3. ảnh hưởng của dân số đến các vấn đề x• hội ở việt nam :
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://12a3nbk.8forum.net
 

Dân số tác động đến lao động và việc làm ,da son va ptrien Kinh te ,tieu dung va tich luy

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
12A3 - THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm - Hà Nội - Khoá học 2006 -> 2009 :: LINH TINH :: Linh tinh-
Free forum | © phpBB | Free forum support | Report an abuse | Sosblogs