12A3 - THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm - Hà Nội - Khoá học 2006 -> 2009

Tập thể lớp 12A3 -- Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm -- Khoá 2006- 2009
IndexPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 1. Những đặc điểm cơ bản của dân số nước

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 23
Join date : 28/12/2009
Age : 26
Đến từ : Kim chung - Đông Anh - Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: 1. Những đặc điểm cơ bản của dân số nước   Mon Feb 01, 2010 11:18 pm

Về quy mô dân số :
Việt nam là một quốc gia có quy mô dân số lớn, tốc độ phát triển dân số ngày càng nhanh. Năm 2000 Việt Nam đặt 77,68 triệu người, đứng thứ 2 ở Đông Nam á, chỉ sau Indo-nêxia và xếp thứ 13 trong tổng số hơn 200 nước trên thế giới. Quy mô dân số lớn còn thể hiện ở mối quan hệ giữa dân số và đất đai. Theo các nhà khoa học tính toán mật độ dân số thích hợp chỉ nên dừng lại từ 35 đến 40 người/ 1 kmơ2, thì ở Việt Nam gấp 5 đến 6 lần “Mật độ chuẩn” và gần gấp 2 lần mật độ dân số của Trung Quốc – nước đông dân nhất nhất thế giới.
Cùng với điều đó tốc độ phát triển dân số ngày càng nhanh. Đến năm 1921, dân số Việt Nam là 15,58 triệu người, Năm 1960 dân số tăng gấp đôi : 30,17 triệu người, năm 1989 dân số đạt 60,47 triệu người. Giai đoạn 1921-1995 dân số nước ta tăng 4,7 lần , trong khi đó dân số thế giới chỉ tăng 3,1 lần. Nếu 35 năm (1921- 1955) dân số tăng lên 9,6 triệu người thì 40 năm tiếp theo ( 1955-1995) dân só bùng nổ với 48,9 triệu người tăng thêm.
Mặc dù tỷ lệ giảm sinh vừa qua đ• giảm và còn tiếp tục giảm, nhưng kết qủa giảm sinh chưa thật sự vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng dân số nhanh trở lại, tư tưởng trọng nam khinh nữ có chuyển biến nhưng vẫn còn 16 tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh là 115 nam so với 100 nữ, vượt quá mức sinh sản tự nhiên (ở những vùng nông thôn nghèo, vùng sâu, vùng xa…tỷ lệ này còn cao hơn). Nếu không duy trì sự nỗ lực thì quy mô dân số nước ta vào giữa thế kỷ XXI có thể nên tới 125 triệu người hoặc cao hơn, và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế, x• hội của đất nước. Do đó công tắc dân số cần tiếp tục đẩy mạnh, làm chuyển đổi hành vi một cách bền vững trong việc thực hiện chuẩn mực gia đình ít con .
1.2- Cơ cấu dân số:
Cơ cấu dân số ở nước ta trong thời gian qua là không hợp lí cả về giới tính, nhóm tuổi, giữa thành thị và nông thôn. Thực tế cho thấy tình trạng mất bình đẳng về giới ở nước ta vẫn xảy ra nhất là khả năng tiếp cận giáo dục, đào tạo về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình đối với phụ nữ và trẻ em gái còn nhiều hạn chế.
Cơ cấu giới tính : Tỷ lệ nữ trên tổng số dân ở nước ta không ổn định và biến động thất thường, giao động từ 50,3 % đến 50,7% (giai đoạn 1921-1939), 50,9% đến 51,4% (giai đoạn 1943-1970), tăng lên 52,1% (năm 1975), giảm dần và đạt 50,6% (năm 1989) lên và ổn định ở mức 51,2% (trong một năm 90, thế kỷ XX), riêng năm 1989 là 51,49% và giảm xuống 50,85% (Năm 1999).
Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi cũng có những khác biệt lớn. Trước miền Nam giả phóng, dân số theo nhóm 0-14 tuổi chiếm 48%, dưới 20 tuổi chiếm 60% . ở miền Bắc, theo số liệu điều tra năm 1960 nhóm tuổi 0-14 tuổi là 42,8%, và tương ứng các năm 1979, 1989 và 1999 là 42,55% , 39,82% và 33,4%. Tỷ lệ người già từ 60 tuổi trở lên, tăng từ 7,07% (năm 1979) ; 7,14% (năm 1989) tới 8,04% (năm 1999). Dân số phụ thuộc đă giảm từ 49,62% (năm 1979), 46,96% (năm 1989) xuống 41,15% (năm 1999). Điều này chứng tỏ dân số phụ thuộc đang giảm theo thời gian, xong tỷ lệ người già lại tăng lên.
Cơ cấu dân số thành thị và nông thôn : Đầu thế kỷ XX dân số thành thị mới chiếm 2% dân số toàn quốc, đến năn 1943 chiếm 9,2%. Tỷ lệ dân số thành thị miền Bắc năm 1931 là 4,6%, miền Trung 3,4% và miền Nam là 4,6%. Đến năm 1952 dân số thành thị là 10%, năm 1960 là 15%, năm 1970 là 17%. Năm 1980, cơ cấu dân số thành thị cả nước chiếm 19,1%. Tổng điều tra dân số 1989 cho thấy, dân số thành thị các tỉnh miền núi và Trung Du Bắc Bộ là 19,92%, Tây Nguyên là 22,13%. Tổng điều tra dân số năm 1999 tiếp tục cho thấy dân số thành thị Tây Nguyên giảm 5,43% và miền núi phía Bắc giảm 4,26% so với năm 1989.
1.3 Chất lượng dân số :
Nhìn một cách tổng quát chất lượng dân số Việt Nam còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lưc chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Các yếu tố về thể lực của người Việt Nam nhất là chiều cao cân nặng sức bền còn rất hạn chế. Theo điều tra mức sống năm 1997-1998 tỷ lệ suy dinh dưỡng ở người lớn là 65% với nam và 38% với nữ có tới 41,51% số trẻ em thuộc diện thấp, còi (thấp hơn so với lứa tuổi ) và 40,1% trẻ em có cân nặng thấp hơn so với tuổi. Ngoài ra có hàng triệu trẻ em bị tàn tật, mắc bệnh bẩm sinh, ảnh hưởng bởi chất độc màu ra cam, về trí lực, mặc dù tỷ lệ biết đọc, biết viết khá cao 91,2% (năm 1999), nhưng 74% số người đ• thôi học mới chỉ có trình độ phổ thông cơ sở, số người đạt trình độ phổ trung học chỉ giao động trong khoảng từ 10% đến 15% (kết quả suy rộng mẫu điều tra năm 1999), 91,84% dân số từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Theo số liệu năm 2002 của tổng cục dạy nghề, chỉ có 17,7% trong tổng số gần 40 triệu lao động của Việt Nam được coi là có kỹ năng chuyên môn. Tội phạm, tiêu cực x• hội tăng, trong đó có cả trẻ em đang là lỗi bức bối của x• hội. Chỉ số phát triển con người ở Việt Nam (HDI) năm 1999 là 0,682 điểm, xếp hạng 101 trong số 162 quốc gia.
1.4 Phân bố dân cư :
Phân bố dân cư nước ta nhìn trung là bất hợp lí. Dân số tập trung chủ yếu ở đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng (chiếm 42,8% dân số cả nước), trong khi đó diện tích của 2 vùng này chỉ chiếm 16,6% diện tích cả nước. Ngược lại miền núi phía Bắc và Tây Nguyên dân cư thưa thớt. Mật độ dân số ở các tỉnh rất chênh lệch nhau : Năm 1999 bình quân dân số trên đất đai ở Thái Bình là 1194 người/ 1 km2, thì ở Kom Tum chỉ có 32 người/ 1km2 (chênh lệch kém tới 40 lần). Mặt khác vốn đầu tư nước ngoài vào các vùng cũng rất khác nhau. Giai đoạn 1988-1998, so vùng Tây Nguyên mức đầu tư nước ngoài vào đồng bằng Sông Hồng gấp 176 lần, và Đông Nam Bộ gấp 307 lần. Thực trạng này chứa đựng nguy cơ di cư tự do lớn so với di dân theo dự án . Giai đoan 1990-1997 có 1,2 triệu dân di cư tới các vùng dự án . ở thành phố Hồ Chí Minh luồng di cư tự do đến không ngừng tăng lên : Giai đoạn 1981-1985, bình quân mỗi năm tăng thêm 130.000 người, giai đoạn 1986-1990 là 185.000 người và năm 1991-1996 là 213.000 người. Nhìn chung tình trạng di dân tự do và sự di chuyển của lực lượng lao động đó đ• làm trầm trọng thêm việc đáp ứng những dịch vụ x• hội cơ bản gây ô nhiễm môi trường sống, tàn phá tài nguyên và gia tăng các tệ nạn x• hội. Quy mô dân số ở thành thi vượt quá khả năng đáp ứng của kết cấu hạ tầng (nhà ở, giao thông, cấp thoát nước…).
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://12a3nbk.8forum.net
 

1. Những đặc điểm cơ bản của dân số nước

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
12A3 - THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm - Hà Nội - Khoá học 2006 -> 2009 :: LINH TINH :: Linh tinh-
Free forum | © phpBB | Free forum support | Report an abuse | Have a free blog with Sosblogs